Đại Sư người Lâm Truy.
Giữa niên hiệu Trinh Quán đời Đường, Sư đến chùa Huyền Trung ở Tây Hà, yết kiến ngài Đạo Xước.
Sau khi đến Đạo tràng Tịnh Độ cửu phẩm, nghe giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ, Sư tinh cần khổ hạnh, phát tâm NIỆM PHẬT.
Sau đó đến kinh đô, Sư khuyến khích, sách tấn bốn chúng, thuyết pháp ở chùa Quang Minh.
Sư chép hơn mười vạn quyển kinh A Di Đà, họa hơn ba trăm bức tranh Tây phương Thánh cảnh.
Sư cảm hóa vô số Tăng- tục. Người được tam-muội VÃNG SANH TỊNH ĐỘ rất nhiều.
Mỗi một tiếng NIỆM PHẬT của Sư đều có một luồng hào quang từ miệng phóng ra, nên thế gian tôn xưng ngài là đại sư Quang Minh.
Trong Lâm thụy nhập quán lễ tưởng phát nguyện văn có ghi lời phát nguyện của Sư như sau:
“Đệ tử chúng con là kẻ phàm phu sanh tử, tội chướng sâu dày. Luân hồi sáu nẻo, khổ không thể nói.
Nay gặp bậc tri thức, được nghe danh hiệu và bổn nguyện của đức Phật A Di Đà, nhất tâm xưng niệm.
Cầu nguyện vãng sinh.
Nguyện Phật từ bi tiếp độ, thương xót cứu vớt.
Đệ tử chúng con chẳng biết tướng hảo quang minh của thân Phật.
Xin Ngài thị hiện cho chúng con được thấy,
Và xin được thấy đức Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, các chúng Bồ Tát và tướng vi diệu quang minh trang nghiêm thanh tịnh trong thế giới này.”
--
Theo LONG THƯ TỊNH ĐỘ nói:
“Mỗi khi vào Phật đường, Sư chắp tay quỳ thẳng, nhất tâm niệm Phật, chưa kiệt sức thì không nghỉ.
Tuy trời rét lạnh nhưng áo Sư vẫn ướt đẫm mồ hôi.
Sư luôn hết lòng dạy PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ cho đại chúng,.
Không lúc nào mà không làm lợi ích cho chúng sanh.
Hơn ba mươi năm, Sư lưng không dính chiếu, hành đạo Bát-chu, lễ Phật mười phương.
Sư cho đây là nhiệm vụ của mình.
Sư nghiêm trì tịnh giới, một lỗi nhỏ cũng không để phạm.
Mắt chưa từng liếc nhìn người nữ, dứt tuyệt danh lợi, tránh xa các nơi đàm luận hý tiếu.
Được cúng dường y phục, vật thực hảo hạng, Sư đều đem bố thí, cúng lại cho đại chúng.
Còn mình thì ăn đồ thô dở.
Giới hạnh của Sư ai cũng ngưỡng mộ.”
--
Một hôm, Sư lên cây liễu, nhìn về phía Tây, thầm nguyện:
“Xin đức Phật tiếp dẫn con vãng sanh Tịnh Độ”.
Rồi thả mình mà tịch, thọ sáu mươi chín tuổi.
Trước tác của Đại Sư để lại có Quán kinh sớ, Vãng sanh lễ tán, Pháp ngữ, v.v...