<!-- system-page-import:pdf --><div data-system-default-style="1" style="font-family:Arial; font-size:24px; line-height:1.6;"><div style="text-align:justify;"><p>Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa - Tập 2</p><p>1</p><p>Tập 2</p><p>Xin mở quyển kinh, trang thứ mười, dòng thứ ba đếm từ dưới lên:</p><p>“Dụ hình đoan tắc ảnh trực, nguyên trược tắc lưu hôn” (Ví như hình thể ngay ngắn thì hình ảnh ngay thẳng; nguồn đã nhơ bẩn thì dòng chảy đục ngầu).</p><p>“Hình đoan” (形端): “Đoan” là đoan chánh, t ỷ dụ tịnh nhân, thiện hạnh; “ảnh trực” (影直) là tỷ dụ quả báo. Nhân qu ả trong Tây Phương thù th ắng là do ch ỗ này. Nhìn l ại thế giới Sa Bà, “nguyên trược” (源濁), “nguyên” là nói tới “tâm nguyên” (心源: nguồn tâm). Tâm chúng ta nhiễm đắm, nói theo cách hiện thời là “ô nhiễm”. Kinh thường hình dung th ế giới của chúng ta là “ngũ trược ác thế” (đời ác năm trược). “Trược” (濁) là ô nhiễm, [“ngũ trược”] là năm thứ ô nhiễm nghiêm trọng. Tâm không thanh tịnh, nên hành vi sẽ bất thiện, hành vi tạo nghiệp Thập Ác, hạnh bèn bất thiện. Do đó, sẽ là “lưu hôn” (dòng chảy đục ngầu). “Lưu” (流) là giống như nước chảy, tự nhiên sẽ chẳng sạch sẽ. Nước ấy “hôn” (昏: đục ngầu), [chữ “lưu hôn”] chỉ thế giới này của chúng ta. Đó là dùng tỷ dụ để nói về nhân và quả báo trong hai thế giới.</p><p>Trong đoạn văn tiếp theo, “tựu tịnh thị tu” (dạy cách tu hành để đạt được tịnh), [hãy xem] dòng thứ tư nơi trang mười một: “Cố tri dục sanh Cực Lạc quốc độ, tất tu thập lục diệu quán, nguyện kiến Di Đà Th ế Tôn, yếu hành tam ch ủng Tịnh nghiệp (Vì thế, biết là mu ốn sanh v ề Cực Lạc, ắt phải tu mư ời sáu phép Quán nhiệm mầu, nguyện thấy Di Đà Thế Tôn, phải hành ba thứ Tịnh nghiệp). Ở đây, đại sư đã vì chúng ta thiết tha khai thị: Muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng thể không biết mười sáu môn diệu quán. Tu thành công bất cứ một phép Quán nào trong mười sáu môn diệu quán, đều có thể vãng sanh Tây Phương thế giới. Từ phép Quán thứ nhất là Nhật Quán đến phép Quán cu ối cùng là Trì Danh, thành tựu bất cứ phép Quán nào cũng đều được. Tu hai ba phép Quán trong ấy cũng được; tu trọn mười sáu phép Quán cũng được. Bất luận là bao nhiêu, chỉ cần quý vị có thể tu thành công; như thế nào thì mới được gọi là “thành”? Đoạn kinh văn tiếp đó đã gi ảng rõ: Mười sáu phép Quán ấy đều là diệu quán, vì sao?</p><p>Bất cứ phép Quán nào cũng đ ều là tu trọn vẹn Không - Giả - Trung Tam Quán, Nhất Tâm Tam Quán. Mư ời sáu phép Quán ấy đều là Nhất Tâm Tam Quán, k ể cả niệm Phật. Đó là chánh tu, là thiện nhất trong các điều thiện. “Nguyện kiến Di Đà Thế Tôn, yếu hành tam ch ủng Tịnh nghiệp” (Nguyện thấy Di Đà Th ế Tôn, phải hành ba thứ Tịnh nghiệp). Ba thứ Tịnh nghiệp vô cùng quan trọng; khi giảng Di Đà Kinh Sớ Sao, tôi đã nói cặn kẽ cùng quý vị. Ở đây, vẫn phải giảng chi tiết cùng mọi người, vì có những đồng tu chưa nghe Di Đà Kinh Sớ Sao, điều này có quan hệ quá lớn đối với sự tu Tịnh nghiệp của chúng ta. Trong ph ần sau, chúng ta sẽ xem đến ba thứ Tịnh nghiệp, sẽ đọc thấy [những điều ấy] khi xem đến phần kinh văn [tương ứng]. Chúng ta lại xem phần kế tiếp của lời tựa nơi trang mười hai, dòng thứ hai.</p><p>“Nhiên hóa nhân sự tiệm, giáo tạ duyên hưng, thị dĩ Xà Vương sát nghịch, Vi Đề ai thỉnh” (Nhưng nhân duyên giáo hóa phải do Sự mà dần dần hình thành, giáo cậy vào duyên để hưng khởi. Kinh này là do vua A Xà Thế phạm tội nghịch</p></div></div>