<!-- system-page-import:pdf --><div data-system-default-style="1" style="font-family:Arial; font-size:24px; line-height:1.6;"><div style="text-align:justify;"><p>A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa</p><p>Tập 254 - Trang 1</p><p>Tập 254</p><p>Xin xem A Di Đà Kinh S ớ Sao Diễn Nghĩa H ội Bản, trang năm trăm lẻ hai:</p><p>(Sao) Hựu Hoa Nghiêm Th ập Địa liên hoa văn vân: “Lưu ly vi hành, chiên đàn vi đài, mã não vi tu, Diêm Phù Đàn kim vi di ệp”, tịnh xưng hành, đài, tu, diệp. Nhi Niết Bàn diệc vân: “Thí như hành, diệp, tu, đài, hợp vi liên hoa”. Thử sở vị đài, giai phòng đài dã.</p><p>(鈔)又華嚴十地蓮華文云:琉璃為莖,栴檀為臺,瑪 瑙為鬚,閻浮檀金為葉。並稱莖臺鬚葉。而涅槃亦云:譬 如莖葉鬚臺,合為蓮華。此所謂臺,皆房臺也。 (Sao:Lại nữa, phần nói về hoa sen trong phẩm Thập Địa của kinh Hoa Nghiêm có nói: “Lưu ly làm cu ống, chiên đàn làm đài, mã não làm tua (nhị sen), vàng Diêm Phù Đàn làm cánh hoa”, cùng nói đ ến cuống, gương, tua, cánh. Mà kinh Niết Bàn cũng nói: “Ví như cuống, cánh, tua, đài hợp thành hoa sen”. Đài được nói [trong các đoạn kinh văn ấy] đều là gương sen vậy).</p><p>Đại sư trích dẫn kinh văn từ kinh Hoa Nghiêm và Niết Bàn để chứng minh. Đức Phật nói t ới “liên đài” rất nhiều, trong các kinh đ ều có nói.</p><p>Đối với “đài” được nói ở đây, ta gọi là “gương sen” hoặc “đài sen”; chữ “phòng đài” [trong Sớ Sao] có ý nghĩa ấy.</p><p>(Sao) Tức Pháp Hoa “Chân Thúc Ca bảo dĩ vi kỳ đài” chi ý dã.</p><p>(鈔)即法華甄叔迦寶以為其臺之意也。 (Sao: Chính là ý nghĩa c ủa [chữ Đài] trong câu “dùng báu Chân Thúc Ca để làm đài” trong kinh Pháp Hoa).</p><p>Trích từ kinh Pháp Hoa. “Chân Thúc Ca (Kiṃśuka) bảo” là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là “hồng bảo thạch”.</p><p>(Sao) Quán thị, tắc tri Quán Kinh hoa tòa quán trung, tiên ngôn tác liên hoa tưởng, thứ vân Thích Ca Tỳ Lăng Già bảo dĩ vi kỳ đài, tắc hoa nội chi đài dã.</p></div></div>