<!-- system-page-import:pdf --><div data-system-default-style="1" style="font-family:Arial; font-size:24px; line-height:1.6;"><div style="text-align:justify;"><p>A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa</p><p>Tập 216 - Trang 1</p><p>Tập 216</p><p>Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm hai mươi tám:</p><p>(Sao) Ch ứng phư ớc đ ức gi ả. Đ ại Ph ẩm Bát Nhã kinh vân:</p><p>“Nhược nhân tán tâm ni ệm Phật, diệc đắc ly kh ổ, kỳ phước bất tận, huống định ý niệm”.</p><p>(鈔)證福德者。大品般若經云:若人散心念佛,亦得 離苦,其福不盡,況定意念。 (Sao: “Chứng tỏ [trì danh] là phư ớc đức”: Kinh Đ ại Phẩm Bát Nhã nói: “Nếu ai tán tâm niệm Phật cũng được lìa khổ, phước ấy bất tận, huống hồ là ý an định mà niệm”).</p><p>Đại sư lại dẫn kinh luận để chứng minh trì danh niệm Phật là nhiều thiện căn, nhiều phước đức. Do vậy, tu thiện căn và phước đức thì thật thà niệm Phật sẽ đều trọn đủ. Thông thư ờng, kẻ chẳng thể thâm nhập kinh tạng, nghe những lời này, chưa chắc là đã có th ể tin tưởng, cho nên mới phải trích dẫn kinh điển để chứng minh. Đoạn trên nhằm chứng minh [trì danh niệm Phật là] thiện căn, còn đoạn này nhằm chứng minh niệm Phật là tu phước. Trước hết, Tổ trích dẫn một đoạn trong kinh Đ ại Phẩm Bát Nhã. Sách Diễn Nghĩa có chú giải:</p><p>(Diễn) Tán tâm niệm Phật, thị trước thật ức trì, trước thật thể cứu.</p><p>Vị nhập nhất tâm giả, phi như kim nhân toàn b ất trước ý, đồ sự thần thiệt dã.</p><p>(演)散心念佛,是著實憶持,著實體究。未入一心者, 非如今人全不著意,徒事唇舌也。 (Diễn: Tán tâm niệm Phật thật sự nghĩ nhớ, trì niệm, thật sự thấu hiểu, tham cứu; [nói tán tâm niệm Phật nghĩa là nói tới] người chưa đắc nhất tâm. Chẳng phải là như người hiện thời hoàn toàn chẳng dốc ý, chỉ niệm suông bằng miệng lưỡi mà thôi).</p><p>Nói rõ “tán tâm ni ệm” là gì? Có th ể nói “tán tâm ni ệm” là khá chuyên tâm, b ất quá công phu chưa đ ạt đ ủ mức, ch ẳng có thành t ựu.</p><p>Đương nhiên là chúng ta phiền não tập khí rất nặng, tuyệt đối chẳng phải là trong một khoảng thời gian ng ắn ngủi bèn có th ể niệm đến mức nhất</p></div></div>