<!-- system-page-import:pdf --><div data-system-default-style="1" style="font-family:Arial; font-size:24px; line-height:1.6;"><div style="text-align:justify;"><p>A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa</p><p>Tập 144 - Trang 1</p><p>Tập 144</p><p>Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm lẻ tám.</p><p>(Sao) Kim giả tứ nghĩa, nhất s ắc vô bi ến, nhị thể vô cấu, tam chuyển tác vô ngã, tứ năng linh nhân phú.</p><p>(鈔) 金者四義,一色無變,二體無垢,三轉作無我, 四能令人富。 (Sao:Vàng có bốn ý nghĩa: Một là màu sắc chẳng biến đổi, hai là Thể chẳng nhơ, ba là tuy lần lượt được chế biến thành các thứ khác nhau, vàng vẫn vô ngã, bốn là có thể khiến cho con người giàu có).</p><p>Bảy báu đều chú trọng sự biểu thị pháp. “Vô bi ến” có nghĩa là Thường. Kinh thường nói Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Vàng biểu thị ý nghĩa này. Màu sắc của vàng chẳng thay đổi, có ý nghĩa Thường (thường hằng).</p><p>“Vô cấu” là ý nghĩa thanh tịnh, trong sạch. “Chuyển tác vô ngã” là ý nghĩa Ngã trong Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. “Năng linh nhân phú” (có thể làm con người giàu có) là ý nghĩa Lạc. Do vậy, nó bao hàm bốn ý nghĩa Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.</p><p>(Sao) Ngân tứ nghĩa đồng, nhi công sảo liệt.</p><p>(鈔) 銀四義同,而功稍劣。 (Sao: Bạc có bốn nghĩa giống như vậy, nhưng công năng hơi kém hơn).</p><p>Bạc cũng có bốn ý nghĩa ấy, nhưng nói theo mặt thể chất, bạc chẳng bằng vàng!</p><p>(Sao) Lưu Ly thanh sắc, thị kỳ chánh dịch.</p><p>(鈔) 琉璃青色,是其正譯。 (Sao: Lưu Ly màu xanh, nên [tiếng Hán dịch là Thanh Sắc Bảo] là chính xác).</p><p>Đây là cách giải thích thông thường trong hiện thời.</p></div></div>