<!-- system-page-import:pdf --><div data-system-default-style="1" style="font-family:Arial; font-size:24px; line-height:1.6;"><div style="text-align:justify;"><p>A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa</p><p>Tập 126 - Trang 1</p><p>Tập 126</p><p>Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm bảy mươi bốn:</p><p>(Sao) Kiên cố giả, Tây thuộc Kim thể, hữu kiên cố nghĩa.</p><p>(鈔) 堅固者,西屬金體,有堅固義。 (Sao: “Kiên c ố”: Phương Tây thu ộc về Kim thể, có ý nghĩa kiên cố).</p><p>Thời cổ, Trung Quốc lẫn Ấn Độ đều nói tới Ngũ Hành, Ngũ Hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Phối hợp với phương vị, phương Tây thuộc Kim, Kim có ý nghĩa kiên cố. Phối hợp với bốn mùa thì Kim ứng với mùa Thu, như thường nói “Xuân sanh, Hạ trưởng, Thu thâu, Đông tàng”. Mùa Thu là mùa thâu hoạch nên khí trời khiến cỏ cây tàn rụng1.</p><p>(Sao) Tức tự tánh chân thường bất dịch.</p><p>(鈔) 即自性真常不易。 (Sao: Tức là tự tánh chân thường, chẳng thay đổi).</p><p>Đây là ý nghĩa kiên cố.</p><p>(Sao) Vạn cổ như như cố. Thanh tịnh giả, phục hữu nhị nghĩa:</p><p>Tây đương túc khí, hữu trừng thanh nghĩa.</p><p>(鈔) 萬古如如故。清淨者,復有二義:西當肅氣,有 澄清義。 (Sao: Muôn đời như như. Thanh tịnh lại có hai nghĩa: Phương Tây có khí phận nghiêm ngặt2, và có ý nghĩa trong lặng).</p><p>Mùa Thu là lúc thâu hoạch, gặt hái, thảy đều thâu hoạch sạch cả rồi, dùng ý nghĩa ấy để tỷ dụ sự trong lặng.</p><p>1 Nguyên văn “Thu hữu túc sát chi khí”, Túc Sát (肅殺) là từ ngữ mô tả khí hậu lạnh, se sắt của mùa Thu khi sắp chuyển sang tiết Đông khiến cây cối tàn úa rồi rơi rụng.</p><p>2 Câu “Tây đương túc khí” nhằm diễn tả ý nghĩa “Tây đương túc sát chi khí” như đã nói trong phần trên. Do xét theo Ngũ Hành, mùa Thu ứng với phương Tây, thuộc về hành Kim. Gió Thu lạnh khiến lá cây đổi sắc, tàn rơi, giống như bị tàn sát nên gọi là “túc sát”, mang ý nghĩa diệt trừ, cắt chặt những phiền não.</p></div></div>